Hỏi về phân chia tài sản bố mẹ để lại

Câu hỏi: Bố mẹ chúng tôi có 6 người đều là con gái, chúng tôi đến nay đều đã đi xây dựng gia đình, về phần tài sản bố mẹ để lại có 1 căn nhà cấp 4 ba gian và một mảnh vườn, vì tôi là chị cả nên giờ rất băn khoăn không biết phân chia tài sản như thế nào?

Trả lời:

Do câu hỏi có phần chưa rõ thông tin, do đó, chúng tôi tạm thời tư vấn theo các trường hợp như sau:

TH1: Bố mẹ bạn hiện vẫn còn sống thì việc “để lại” căn nhà cấp 4 cho các con được hiểu là việc tặng cho tài sản được quy định tại Điều 459, BLDS 2015 về “tặng cho bất động sản”. Khi đó, việc phân chia tài sản tặng cho cho các con thành các phần bằng nhau hoặc không bằng nhau phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của bố mẹ bạn, pháp luật không có sự điều chỉnh. Trong trường hợp này, giữa bên tặng cho và bên được tặng cho tài sản phải được thành lập một bản hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định tại Điều 457, BLDS: Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.”

TH2: Bố mẹ bạn hiện đều đã qua đời thì việc “để lại” căn nhà cấp 4 cho các con được hiểu là việc để lại di sản thừa kế cho người thừa kế và được điều chỉnh theo quy định pháp luật dân sự về thừa kế.

          * Trường hợp bố mẹ bạn qua đời, có để lại di chúc hợp pháp theo quy định của tại Điều 630, BLDS 2015, thì việc phân chia di sản thừa kế phụ thuộc vào sự định đoạt của bố mẹ bạn được thể hiện trong nội dung bản di chúc. Theo quy định tại Điều 630, BLDS 2015, di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

“a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.”

          * Trường hợp bố mẹ bạn qua đời, không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, thì việc phân chia di sản thừa kế được căn cứ theo các quy định về việc “thừa kế theo pháp luật”.

Điều 651, BLDS 2015, quy định về “người thừa kế theo pháp luật” như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, giả sử hiện nay những người thân sinh ra cha mẹ bạn đều đã qua đời và bố mẹ bản không có con nuôi, thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha, mẹ bạn được xác định là bạn và 5 em gái. Di sản thừa kế là căn nhà cấp 4 và mảnh vườn được phân chia thành 6 phần bằng nhau và chia đều cho cả 6 người vì những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau.

TH3: Chỉ một trong bố hoặc mẹ bạn qua đời và người kia vẫn còn sống tại thời điểm hiện tại.

Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 33, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.”, thì căn nhà cấp 4 và mảnh vườn được xác định là tài sản chung của cha, mẹ bạn. Trường hợp này, bố và mẹ bạn, mỗi người chỉ có quyền sở hữu đối với ½ giá trị tài sản, nên di sản thừa kế của người chết chỉ được xác định là ½ giá trị căn nhà cấp 4 và mảnh vườn. Việc phân chia di sản thừa kế tương tự như việc chia di sản thừa kế tại trường hợp 2. Tuy nhiên cần lưu ý, trong trường hợp này:

- Nếu di sản thừa kế được chia theo di chúc: việc phân chia di sản phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Nhưng nếu người còn sống (cha hoặc mẹ bạn) không có tên trong di chúc của vợ hoặc chồng mình thì họ vẫn được hưởng một xuất hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, căn cứ theo quy định tại Điều 644, BLDS 2015 về “Người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc”

“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

- Nếu chia thừa kế theo pháp luật: do bố và mẹ bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau, nên ½ giá trị tài sản (căn nhà cấp 4 và mảnh vườn) được chia đều thành 7 phần cho bố hoặc mẹ bạn và 6 người con gái.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi dành cho bạn.

Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết:

Tel: 024.22159123

Hotline: 0983.653.843

Email: thuevaluathanoi@gmail.com

THÔNG TIN LIÊN HỆ


logo.jpg

Giờ làm việc:

Thứ 2 đến thứ 6: 8h đến 17h
Thứ 7: 9h đến 12h

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy nhấc máy và gọi chúng tôi để được tư vấn