Ly hôn khi chưa đăng ký kết hôn?

-Chúng tôi sống với nhau từ năm được 12 năm, có 1 con chung nhưng chúng tôi vẫn chưa đăng ký kết hôn. Tài sản của chúng tôi gồm 1 căn nhà có giấy tờ mang tên chồng tôi, một mảnh đất mua chung với người anh cả của chồng và đứng tên chồng tôi, nhưng thực tế đều là tài sản chung. Đến nay chúng tôi không ở được với nhau nữa vậy có phải ra tòa để làm thủ tục xin ly hôn hay không, con, tài sản thì chia như thế nào?

Trả lời:

Thứ nhất, có phải ra tòa để làm thủ tục ly hôn không?

Theo quy định tại hhoản 1, Điều 9, Luật HN&GĐ 2014, thì: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Mặt khác, theo quy định khoản 1 Điều 14 Luật HN&GĐ 2014 như sau: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Mặt khác, theo khoản 2 điều 51 Luật HN&GĐ : Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”. Như vậy, về nguyên tắc, giữa 2 bạn không tồn tại quan hệ hôn nhân, vì vậy, không có thủ tục ly hôn tại Tòa án

Thứ hai, về con cái:

Theo điều 15 Luật HN&GĐ :Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Theo đó trường hợp bạn không đăng ký kết hôn, giải quyết chia con chung vẫn theo quy định tại Luật HN&GĐ 2014, cụ thể là khoản 2 và khoản 3 Điều 81:

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Vậy bạn có thể thỏa thuận với chồng về việc nuôi con. Nếu không thỏa thuận thì theo quy định trên, nếu con dưới 36 tháng tuổi sẽ do mẹ nuôi; con từ 7 tuổi trở lên sẽ được quyền chọn ở với cha hay với mẹ. Tòa cũng xem xét nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, lối sống lành mạnh của cha mẹ… có thể để bạn nuôi con.

Thứ ba, về tài sản:

Căn cứ Điều 16 Luật HN&GĐ 2014 quy định giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

“1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.

Đối với căn nhà và mảnh đất được mua trong thời kì hai bạn sống chung với nhau như vợ chồng nhưng giấy tờ chỉ đứng tên chồng bạn, nếu bạn có đủ căn cứ, giấy tờ chứng minh khối tài sản đó được mua từ tiền chung của hai bạn trong thời kì này thì  căn nhà và mảnh đất đó vẫn được coi là tài sản chung của nam nữ trong thời gian chung sống với nhau như vợ chồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 16 nêu trên, nếu hai bạn không thể thỏa thuận về việc chia tài sản chung thì sẽ áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan để giải quyết vấn đề tài sản chung.

Theo Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về chia tài sản thuộc sở hữu chung như sau:

“1. Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.”

Như vậy, nếu 2 bạn không thỏa thuận về việc chia tài sản chung thì áp dụng quy định tại điều 219 Bộ luật dân sự nêu trên.

Bạn cũng cần chú ý đến quyền lợi của bạn và con bạn trong việc giải quyết quan hệ tài sản khi chia đó là, khi chia tài sản chung thì phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con.

 

VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN

THÔNG TIN LIÊN HỆ


logo.jpg

Giờ làm việc:

Thứ 2 đến thứ 6: 8h đến 17h
Thứ 7: 9h đến 12h

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy nhấc máy và gọi chúng tôi để được tư vấn